“Ngày đầu tiên tôi đến trường dạy học”!

09:01 |
NGÀY ĐẦU TIÊN
TÔI ĐẾN TRƯỜNG DẠY HỌC


            Sáng mai hôm ấy (7/9/1978), bầu trời khá trong xanh sau một trận mưa rào suốt đêm, lòng tôi nao nao khác lạ, một cảm giác vừa phấn kích vừa lo sợ xâm chiếm tâm hồn tôi: “Ngày đầu tiên tôi đến trường dạy học”.
            Chiếc ba lô căng phồng với đủ mọi thứ: mùng, mền, gối, võng, sách vở, tư trang, vài kilôgam cá trích khô, một chai nước mắm, một bịch muối, một cục xà bông,… không quên một lọ thuốc Ký ninh và một lít rượu đế. Tôi đã chuẩn bị sẵn chờ anh em tới là lên đường. Thầy Nguyễn Văn Thành - Hiệu trưởng cùng với 4 Thầy: Nguyễn Xuân Tiến, Nguyễn Đức Nhuận, Trần Văn Dũng và tân binh Trần Bảng, khoác ba lô với phương tiện “đi bộ” tiến thẳng về rừng xanh thăm thẳm để đến một ngôi trường heo hút nhất của huyện Hàm Thuận: Mỹ Thạnh.
            Chúng tôi khởi hành từ Mương Mán tầm khoảng 8 giờ, đi bộ khoảng 1 tiếng rưỡi đồng hồ thì ra khỏi đất Hàm Thạnh. Dừng chân bên bờ suối nghỉ ngơi. Không gian im ắng đến rờn rợn, chỉ nghe tiếng chim hót và tiếng vượn hú. Thầy Thành luôn đi hoặc ngồi cạnh tôi để động viên: Cảnh vật vui không? Chúng ta tiến sâu vào rừng sẽ còn được thưởng thức nhiều thú vị hơn nữa! Thú thật, tiếng suối reo róc rách, tiếng chim hót, cảnh vật là lạ làm cho tôi cũng thấy thích thích, nhưng bắt đầu lo lo vì thấy những con muỗi vằn vo ve bay tới! Nhờ có thầy Nhuận tếu táo nên không gian bớt buồn tẻ.
Sau nửa tiếng nghỉ ngơi, chúng tôi lại tiếp tục “hành quân”. Thầy Thành cất lên bài hát “Hành khúc người Giáo viên miền cao” do thầy sáng tác cũng thấy vui vui, có chút nhuệ khí để lên đường! Tôi còn nhớ mang máng:
            “Trăng đêm chưa tan vượt đồi núi, vượt rừng suối ta lên đường. Bao nhiêu năm qua, đàn em nhỏ đời chìm trong màn u tối, giờ có chúng tôi, người chiến sĩ sẵn sàng!”
Đường mòn bắt đầu thu hẹp dần …, chúng tôi có thể nói là len lỏi đi giữa rừng cỏ cao lút đầu, hai tay phải gạt cỏ ra mới bước tới được. Tiến lên hơn nửa tiếng đồng hồ nữa thì bắt gặp các rẫy lúa, mì, bắp … của đồng bào Dân tộc Hàm Cần (thôn 1). Rẫy nương ở đây, đặc biệt vẫn còn trơ những gốc cây to, nhỏ đen sì, không thể cày bừa được, nó khác với nương rẫy của người Kinh. Chúng tôi thấy từng bầy khỉ, tay nắm những trái bắp chạy trốn lên cây, tiếng gọi nhau chí chóe. Tiến sâu hơn nữa, bắt đầu xuất hiện những người dân nơi đây đi ngược chiều với chúng tôi. Đàn ông, vai vác xà gạc, mình trần chỉ độc một cái khố ; đàn bà, các cô gái mang gùi, cũng có những bà cao tuổi không vận áo. Thầy Thành gặp ai cũng chào hỏi bằng tiếng của họ, họ niềm nở hỏi: “Nao ta học nhở ?” (đi dạy học hả). Kể ra thì thầy Thành cũng có năng khiếu về “ngoại ngữ” nên chỉ có một mình thầy là nói và nghe được tiếng bản địa.
           
Chúng tôi văng vẳng nghe tiếng đùa nghịch của trẻ con cũng như tiếng thanh niên nam nữ đang tụ quần đâu đó. Các thầy cũ báo cho tôi biết sắp sửa được “chiêm ngắm” các sơn nữ “tắm tiên”. Quả đúng thế, con đường dẫn chúng tôi đến một con suối rộng, nước trong xanh, từng tốp trai gái đang ngụp lặn trong suối. Thanh thiếu niên nam tắm phía trên, thanh thiếu niên nữ tắm phía dưới, con đường băng suối ngăn thành hai khu vực. Các bé nữ có vẻ vô tư “lộ trần”, các cô gái thì e ấp chụm vào nhau để lộ các lưng trần. Đó là “cảnh tượng” vui mắt đầu tiên tôi được ngắm. một vài cô mạnh dạn hỏi thầy Thành: “ Ha hô xà bông thơm nhở” (thầy có xà bông thơm nhỉ). Thầy Thành đành phải để cục Ca-May trên tảng đá cho mấy cô lên lấy. Mấy thầy cũng tranh thủ xuống tắm phía trên nhập với tốp thanh niên nam. Sau một lúc các cô thích chí với xà bông thơm thì khi đem trả nó mỏng lép mất rồi! … Chúng tôi cùng với đám trai khoác ba lô tiến vào làng.
            Chúng tôi nghỉ trưa tại trường Hàm Cần, thầy Đoàn Tào - Hiệu trưởng chiêu đãi cơm trưa, anh em ở xuôi lên sẵn có rượu, bữa cơm tuy giản đơn nhưng vui.

          Tầm hơn một giờ chiều, chúng tôi tranh thủ xuất phát tiến lên vùng cao Mỹ Thạnh. Tôi vội hỏi thầy Tào: Mỹ Thạnh còn xa nữa không thầy? Thầy Tào đáp: “Còn khoảng 4 xà gạc nữa”! Tôi đoán, chắc chừng vài tiếng nữa là đến nơi. Đoàn giáo viên Mỹ Thạnh vượt suối rời Hàm Cần, chúng tôi lại tiếp tục len lỏi trong cỏ để đến trường. Gần một tiếng đồng hồ, chúng tôi dừng chân dưới đèo Quan Hân. 
Bắt đầu một đoạn đường ác liệt: vượt đèo! Người khòm xuống, ba lô ngày càng nặng trĩu, đôi chân mò mẫm tìm chỗ bằng để đặt bàn chân. Mồ hôi ra nhễ nhại, không còn hơi đâu nữa mà nói, cười. Không gian lặng như tờ, không phải vì thiếu tiếng chim hót, nhưng hơi cũng thoát ra lỗ tai nên đôi tai hình như bị điếc. Dừng lại nghỉ, rồi lại đi, cũng phải mất cả tiếng đồng hồ chúng tôi mới đến được đỉnh đèo. Cả nhóm nằm dài trên những tảng đá to, bịt mũi thở mạnh cho không khí thoát ra khỏi lỗ tai và bây giờ chúng tôi mới nghe rõ tiếng của nhau, của muông chim.
            Có hơn nửa giờ nghỉ ngơi để hồi phục sức khỏe, chúng tôi lại khoác ba lô xuống đèo. Đường xuống đèo thoai thoải dễ đi hơn, nhưng chỉ đi hàng một, không được đi trật ra khỏi đường mòn. “Coi chừng vướng chông”! Tiếng thầy Tiến nhắc nhở. Thì ra hai bên đường toàn là chông tre tua tủa lẫn trong cỏ chực chờ…. Chúng tôi bỗng dừng lại nghe ngóng, hình như vừa có một đàn voi vừa mới đi qua đây, cây cối nghiêng ngả tạo thành một lối đi băng qua đường mòn. Dấu chân voi in đậm, to như cột đình làm chúng tôi dựng tóc gáy, khiếp vía!
            Xuống khỏi đèo, chúng tôi bắt gặp những hố bom, đường kính có tới hơn chục mét. Thì ra nơi đây, trước năm 75 là “mật khu” Cách Mạng, cho nên toàn là chông hai bên đường.
            Bầu trời bỗng đen nghịt, chúng tôi sắp được tắm mưa… Kể ra đi bộ băng rừng dưới cơn mưa tầm tã cũng có cái thú vị: không nóng nực, không ra mồ hôi, ngắm cảnh mưa rừng cũng hay hay.
           
Chúng tôi bắt đầu tiến vào làng thì cơn mưa cũng nhẹ hạt. Các em thiếu nhi đang tắm mưa chạy tới đón quý thầy, tiếng reo hò, phấn khởi rôm rả cả làng: “Thầy lên rồi”! Tôi, thầy mới được chiếu cố hơn cả, bọn trẻ con nhìn đau đáu, lạ lẫm. Đoàn trẻ con trần truồng đi trước, năm ông thầy đi sau. Hai bên đường, trong những nhà ngang (không vách che) từng tốp các cô gái đang giã gạo: cắc bụm cắc, với cái chầy dài có đến trên 3m. Tôi tưởng tượng giống như đoàn quân thắng trận trở về được chào đón nồng nhiệt!
           
Nhà tập thể của quý thầy và ba phòng học được lợp bằng tôn, đó là điều thắc mắc đầu tiên khi tôi bước vào sân trường. Nhà của quý thầy trống trơ, một cái sạp tre dài, một cái bàn được ghép bởi hai mặt bàn học sinh, chân bằng tre. Sát vách có ba hòn đá to chụm vào nhau, đó chính là “bếp ăn tập thể”. Thả ba lô xuống, tôi chạy vội ra tham quan các lớp học. Mái tôn cũ, vách tre đan, bảng gỗ hẳn hoi, bàn học sinh cũng giống như bàn ở đồng bằng, nhưng có cái khác là chân bàn bằng tre, ghế cũng bằng tre. Ba tháng hè, chim cũng tranh thủ làm tổ trên mái, trên vách, cả trên bảng lớp.
            Thầy Nhuận và thầy Dũng cầm cái nồi đen thui đưa cho bọn trẻ đi xin gạo và dặn: “Sa sang sa lon” (một nhà một lon). Bọn trẻ hồ hởi chạy thoáng mất… Một lúc sau, bọn chúng đem về một cái nồi đầy gạo, những đứa còn lại vác theo củi, mấy cô thiếu nữ cũng mang gùi kéo đến trường để đi lấy nước suối cho quý thầy. Nước được đựng bằng những trái bầu khô, lấy lá cây làm “nắp đậy”. Các cô chuẩn bị bữa cơm chiều muộn đón quý thầy. Bếp củi đỏ rực, thầy Thành lấy toàn bộ cá khô của thầy mang lên (có độ cả trăm con) đưa cho mấy cô nướng. Tôi trố mắt nhìn, ngạc nhiên? Thì ra đó là món quà dưới xuôi lên dành cho học sinh, thầy nói: “Sa rây, sa a-can” (mỗi đứa một con cá khô). Mùi cá khô nướng thơm phức, bọn trẻ con thèm, nuốt nước miếng ừng ực!
            Một lúc sau, bốn năm vị của chính quyền tới mang theo: một ché rượu cần, một đùi heo rừng đã luộc, một chú gà trống, chén đũa … để chiêu đãi quý thầy. Tay bắt, mặt mừng, họ nhìn tôi và nói với mấy thầy cũ bằng tiếng Rai nên tôi chẳng hiểu gì cả!
Cụ thể họ hỏi:
            -Nhu hô ơ tíu bơ dzơ ? – Nó có vợ chưa?
            -Nhu hau Ka mây tọ ny nhở? – Nó có thích con gái ở đây không?
            -Nhu nhum tà pai dưng mẻ? –Nó uống rượu cần được không? ….
            Sau khi phân phát cá khô cho bọn trẻ - sa rây sa a-can, chúng chạy ù về nhà để ăn cơm tối, bữa “tiệc” được  bày biện thịnh soạn: nào cá trích khô, đùi heo, gà luộc để nguyên, muối ớt, ché rượu cần, hai bi đông rượu gạo, rau tàu bay… Chú Hai Rinh, Chủ tịch xã khai mạc tiệc bằng một câu tiếng Rai (giống như đọc thần chú), rồi xé ra cái mỏ gà quẳng lên mái nhà. Tiếp tục đọc một câu nữa, rồi lấy chén rượu ra sân tạt rượu lên trời. Đó là phong tục “Ngao Giàng”-cúng trời của đồng bào nơi đây. Bữa tiệc vừa “đơm Rai vừa đơm Kinh” nên tôi như người khách lạ! Mấy vị khách và mấy cô đầu bếp chỉ toàn ăn cá khô nhường đùi heo và gà luộc cho quý thầy. Ở vùng cao (những năm 70), người dân nơi đây “thèm thuồng” cá khô đến kỳ lạ! Họ không bỏ sót một tý gì: đầu, đuôi, mang, vi, vảy, xương, ngoại trừ ruột… nhưng họ lại ngán thịt!
            Hai bi đông rượu đã cạn, riêng ché rượu cần thì cứ chêm nước suối vào nên vẫn cứ đầy, gà chỉ còn xương, đùi heo để dành cho bữa hôm sau, bữa tiệc đầu đời của tôi tại vùng cao cũng đi đến hồi kết, khách và chủ “ân ngai”-cám ơn! Đồng hồ chỉ đúng con số 12. Trước khi đi ngủ, mỗi thầy không quên uống 2 viên thuốc phòng sốt rét!
…………….
            Một ngày đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời nhà giáo của tôi: gian truân, cực khổ nhưng đầy ắp tình đồng chí, tình người, tình thầy trò... Tôi và quý thầy đã đóng góp một chút nho nhỏ trong sự nghiệp Giáo dục của Huyện nhà, đặc biệt là ở vùng cao Mỹ Thạnh. Tôi không thể nào quên được ngày hôm ấy: “Ngày đầu tiên tôi đến trường dạy học”!
Pet Trần Bảng
Đọc tiếp…

Truyện cười Noel

08:41 |

chuyện 1: Một người đàn ông gọi điện thoại cho con trai tên John trước lễ Giáng sinh:
- Cha không muốn phá hỏng ngày vui của con, nhưng Cha và mẹ con sắp ly dị. 45 năm khổ sở thế là đủ.Người con hét toáng lên:
Đọc tiếp…